Điện Sinh Khối Việt Nam: Tiềm Năng Lớn, Vướng Mắc Đầu Tư?
Điện sinh khối tại Việt Nam, một nguồn năng lượng tái tạo đầy tiềm năng, đang đối mặt với những thách thức lớn trong quá trình phát triển. Trong khi mục tiêu đặt ra là 3.000 MW vào năm 2030, công suất hiện tại vẫn còn khiêm tốn, cho thấy sự cần thiết cấp thiết phải tìm ra giải pháp để thu hút đầu tư và thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành. Bài viết này sẽ phân tích sâu sắc những nguyên nhân khiến điện sinh khối chưa thực sự “hút” được nhà đầu tư và đề xuất những giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề này, đồng thời mở ra những cơ hội hợp tác và phát triển bền vững cho tương lai.
Tiềm năng lớn, nhiều ưu đãi hỗ trợ phát triển điện sinh khối tại Việt Nam
Điện sinh khối là nguồn năng lượng được tạo ra từ các nguồn nguyên liệu sinh khối đa dạng, bao gồm cây trồng, cây công nghiệp, tảo, và các phế phẩm nông – lâm nghiệp như rơm rạ, bã mía, vỏ cây, xơ bắp, vụn gỗ, giấy vụn, phân gia súc, gia cầm… Với trữ lượng dồi dào, năng lượng sinh khối được đánh giá là một trong những nguồn năng lượng tái tạo quan trọng cho tương lai. Trên thế giới, sinh khối chiếm khoảng 14-15% tổng năng lượng tiêu thụ, đóng vai trò là nguồn năng lượng lớn thứ 4. Ở các nước phát triển, tỷ lệ điện sinh khối trong tổng cung cấp năng lượng thường dao động từ 35-45%. Các quốc gia dẫn đầu về phát triển điện sinh khối bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Nguyên liệu sinh khối rất đa dạng: cây trồng công nghiệp, phân từ trang trại chăn nuôi, rơm rạ… (Ảnh minh họa internet)
Là một quốc gia nông nghiệp, Việt Nam có tiềm năng lớn về nguồn nguyên liệu sinh khối, với các sản phẩm phế phẩm từ gỗ củi, trấu, bã cà phê, rơm rạ, bã bía, chất thải chăn nuôi và chất thải đô thị. Ước tính, sản lượng nguyên liệu sinh khối ở Việt Nam khoảng 150 triệu tấn/năm, trong đó gần 60 triệu tấn đến từ phế phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, hiện tại, chỉ khoảng 40% lượng này được sử dụng cho nhu cầu năng lượng của hộ gia đình và sản xuất chi phí điện. Phần còn lại thường bị chôn lấp hoặc đốt trực tiếp, gây lãng phí tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường. Điện sinh khối tại Việt Nam đang dần khẳng định vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề về năng lượng và thúc đẩy phát triển bền vững.
Nhằm khuyến khích phát triển ngành công nghiệp này, từ năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 24/2014/QĐ-TTg. Quyết định này tạo điều kiện cho các dự án điện sinh khối tại Việt Nam được hưởng nhiều ưu đãi về thuế, vốn đầu tư và tín dụng. Cụ thể, các doanh nghiệp phát triển dự án điện sinh khối có thể được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, cũng như miễn, giảm tiền sử dụng đất và tiền thuê đất cho dự án và các công trình liên quan như đường dây, trạm biến áp. Gần đây nhất, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 08/2020/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 24, đặc biệt là về cơ chế hỗ trợ và giá điện sinh khối. Quyết định này đã tăng đáng kể giá điện năng lượng sinh khối, với mức giá 1.634 đồng/kWh cho các dự án đồng phát nhiệt – điện (tăng từ 1.220 đồng/kWh trước đó) và 1.968 đồng/kWh cho các dự án không đồng phát nhiệt – điện.
Tại sao các nhà đầu tư còn lưỡng lự với điện sinh khối tại Việt Nam?
Mặc dù có nhiều ưu đãi, nhưng trên thực tế, trong 6 năm qua, điện sinh khối tại Việt Nam vẫn chưa phát triển mạnh mẽ như kỳ vọng. Số lượng các dự án điện sinh khối trên cả nước còn hạn chế. Phần lớn sản lượng điện từ nguồn năng lượng tái tạo này đến từ các nhà máy đường, tận dụng bã mía trong quá trình sản xuất để tạo ra điện cho hoạt động nội bộ. Tổng công suất điện từ sinh khối của 41 nhà máy đường hiện tại chỉ đạt khoảng 150 MW. Chỉ một số ít nhà máy đường quy mô lớn tham gia vào việc bán điện thương mại. Theo số liệu từ Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam – EVN), năm 2019, cả nước chỉ có 3 nhà máy mía đường (tổng công suất 175 MW) hòa lưới. Trong khi đó, theo Quy hoạch điện VII Điều chỉnh và Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo quốc gia, điện sinh khối được đặt mục tiêu đạt 660 MW vào năm 2020, 1.200 MW vào năm 2025 và 3.000 MW vào năm 2030. Rõ ràng, công suất điện sinh khối hiện tại vẫn còn khá khiêm tốn so với mục tiêu đặt ra đến năm 2020. Để tìm hiểu thêm về các dịch vụ, quý vị có thể tham khảo kiểm kê năng lượng.
Một trong những rào cản chính khiến điện sinh khối chưa thu hút được nhà đầu tư là giá bán điện sinh khối lên lưới quốc gia theo Quyết định 24 còn khá thấp. Việc Thủ tướng Chính phủ quyết định nâng giá thu mua điện sinh khối (Quyết định số 08) được xem là một tín hiệu tích cực, tạo động lực để khuyến khích phát triển các dự án điện sinh khối trong bối cảnh hiện tại. Với nhu cầu sử dụng ngày càng tăng, việc tìm hiểu về chi phí điện cũng rất quan trọng.

Một nhà máy sản xuất điện đồng phát từ sinh khối bã mía (Ảnh internet)
Bên cạnh đó, nguồn cung nguyên liệu sinh khối và vị trí đặt nhà máy cũng là những vấn đề cần được quan tâm. Phần lớn các nhà máy đường sử dụng bã mía làm nguyên liệu đầu vào để sản xuất điện. Tuy nhiên, do mía có tính mùa vụ, điều này có thể dẫn đến tình trạng thiếu nguồn cung khi không phải vụ mùa. Do đó, các chuyên gia khuyến nghị cần có sự hợp tác giữa các nhà máy điện sinh khối và các hiệp hội như Hiệp hội Gỗ và Lâm sản để đa dạng hóa nguồn nguyên liệu. Khoảng cách giữa nguồn nguyên liệu và nhà máy cũng là một yếu tố cần xem xét, vì nó ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển và nguy cơ chậm trễ hoặc mất nguồn nguyên liệu. Giống như các dự án năng lượng tái tạo khác, các dự án điện sinh khối cũng đối mặt với thách thức về nguồn vốn, đòi hỏi đầu tư dài hạn, thời gian hoàn vốn kéo dài, làm tăng chi phí vốn và rủi ro.
Nhiều ý kiến cho rằng, mặc dù Chính phủ có chủ trương phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có điện sinh khối, nhưng vẫn cần hoàn thiện hơn nữa cơ chế đầu tư, cụ thể hóa quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế tài chính đặc biệt, ưu tiên nhiều hơn về thời gian và giá mua điện cho các dự án điện sinh khối quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao để thực sự thu hút các nhà đầu tư và thúc đẩy sử dụng phế phẩm nông nghiệp.
Vũ Phong Energy Group



