Skip to Content

Blog Archives

Tình hình phát triển hiện nay của ngành công nghiệp năng lượng và vai trò của nó

Content Protection by DMCA.com

Vai trò của ngành công nghiệp năng lượng đã được khẳng định là ngành quan trọng, cơ bản, là cơ sở để phát triển mọi ngành công nghiệp khác.

Vai trò của ngành công nghiệp năng lượng

Công nghiệp năng lượng được đánh giá là một trong những ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng và cơ bản của một quốc gia. Nếu không có sự tồn tại và phát triển của ngành năng lượng, nền sản xuất hiện đại sẽ không thể phát triển. Có thể nói, vai trò của ngành công nghiệp năng lượng là động lực cho các ngành kinh tế phát triển.

Công nghiệp năng lượng được coi như bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống cơ sở hạ tầng sản xuất, giữ vai trò cốt yếu cho quá trình công nghiệp hóa và sự phát triển kinh tế – xã hội. Khi công nghiệp năng lượng phát triển, sẽ kéo theo hàng loạt các ngành công nghiệp khác phát triển như công nghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng… Trong khi đó, các ngành công nghiệp luyện kim màu, chế biến kim loại, chế biến thực phẩm, hoá chất, dệt… cũng không thể thiếu nền tảng từ công nghiệp năng lượng. Thậm chí, từ chỉ số tiêu dùng năng lượng bình quân theo đầu người, có thể phán đoán khá chính xác trình độ phát triển kinh tế, kỹ thuật và văn hóa của một quốc gia.

Tình hình phát triển của ngành công nghiệp năng lượng Việt Nam: Sự chuyển dịch cơ cấu năng lượng

Thời gian qua, ngành công nghiệp năng lượng bao gồm ngành công nghiệp khai thác than, dầu khí, công nghiệp điện năng đều có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Theo số liệu báo cáo của Bộ Công Thương, tổng cung cấp năng lượng sơ cấp trong nước liên tục tăng trưởng với tốc độ bình quân đạt 4,64%/năm, tương đương 71,903 triệu TOE (tấn dầu quy đổi).

Vai trò của ngành công nghiệp năng lượng cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Tổng công suất các nguồn điện tăng, tăng cả sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu. Thống kê hết năm 2019, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sản xuất và mua 231,10 tỉ kWh điện, tăng 8,85% so với năm 2018.

Ngành công nghiệp năng lượng nói chung, công nghiệp điện năng nói riêng có sự tăng trưởng mạnh mẽ Ngành công nghiệp năng lượng nói chung, công nghiệp điện năng nói riêng có sự tăng trưởng mạnh mẽ (Ảnh minh họa internet)

Tuy nhiên, ngành công nghiệp năng lượng Việt Nam cũng đang gặp một số thách thức. Nhu cầu năng lượng đang phát triển rất nhanh trong khi đó các nguồn cung trong nước không đủ đáp ứng yêu cầu, nhiều dự án điện bị chậm so với quy hoạch, kế hoạch.

Trữ lượng và sản lượng sản xuất của than, dầu thô và khí suy giảm hằng năm. Yêu cầu nhập khẩu năng lượng ngày càng lớn là một vấn đề trong tình hình phát triển của ngành công nghiệp năng lượng Việt Nam vì nó làm giảm khả năng tự chủ về năng lượng, tăng sự phụ thuộc vào các nền kinh tế khác.

Tình hình phát triển của ngành công nghiệp năng lượng thế giới thời gian qua cho thấy có sự chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp năng lượng với sự thay đổi của các chính sách, cơ cấu, công nghệ: từ sản xuất, tiêu thụ các nguồn nhiên liệu hóa thạch truyền thống (than, dầu, khí tự nhiên) sang các nguồn năng lượng tái tạo bền vững (gió, mặt trời, sinh khối…).

Trong xu hướng ấy, ngành công nghiệp năng lượng Việt Nam cũng đang bước đầu có sự chuyển dịch để hướng tới phát triển bền vững. Quy hoạch điện VII, Quy hoạch điện VII điều chỉnh và cả Quy hoạch điện VIII đang xây dựng đều ưu tiên phát triển nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo nhằm góp phần bảo tồn tài nguyên năng lượng, hạn chế các tác động tiêu cực tới môi trường trong sản xuất điện.

Tỷ trọng của năng lượng tái tạo trong tổng nguồn cung hệ thống điện đang ngày càng tăng (hiện đạt khoảng 12%). Điều này sẽ góp phần làm giảm sự phụ thuộc vào nguồn điện sản xuất từ than nhập khẩu, đảm bảo an ninh năng lượng, phát triển kinh tế – xã hội bền vững, đồng thời cùng chung tay với thế giới chống lại biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái chung.

Năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió… đang được ưu tiên phát triểnNăng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió… đang được ưu tiên phát triển

Theo Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ban hành ngày 11/02/2020, mục tiêu vào năm 2030 tỷ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15-20% và vào năm 2045 sẽ đạt khoảng 25-30%. Khi đó, mặc dù nhiệt điện than vẫn là nguồn năng lượng quan trọng nhưng vai trò của công nghiệp năng lượng tái tạo sẽ ngày càng được khẳng định trong sự phát triển kinh tế – xã hội.

Trên đây là một số thông tin về vai trò của ngành công nghiệp năng lượng và tình hình phát triển của ngành công nghiệp năng lượng Việt Nam hiện nay. Để có thêm thông tin về ngành năng lượng tái tạo Việt Nam nói chung, điện mặt trời nói riêng, mời bạn đọc thêm tại đây.

 

Nguồn : Vũ Phong Solar

READ MORE

Năng lượng điện sinh khối – nguồn năng lượng đầy tiềm năng ở Việt Nam

Content Protection by DMCA.com

Với đặc thù là một nước nông nghiệp, Việt Nam có rất nhiều tiềm năng phát triển ngành năng lượng điện sinh khối với khả năng khai thác khoảng 150 triệu tấn mỗi năm.

Năng lượng điện sinh khối là gì?

Năng lượng điện sinh khối là năng lượng được tạo ra từ các vật chất nguồn gốc sinh học, chẳng hạn như cây cối tự nhiên, cây trồng công nghiệp, tảo và các loài thực vật khác, hoặc từ bã nông nghiệp, lâm nghiệp. Ngoài ra, chất thải từ các hoạt động của con người như từ quá trình sản xuất thức ăn nước uống, bùn/nước cống, phân bón, sản phẩm phụ gia (hữu cơ) công nghiệp và các thành phần hữu cơ của chất thải sinh hoạt cũng là nguyên liệu sản xuất cho ngành này.

 

Vỏ trấu – một nguyên liệu sinh khối rất dồi dào ở Việt Nam (Ảnh internet)

Để sản xuất năng lượng điện sinh khối, người ta sử dụng 3 công nghệ chính là vật lý, hóa nhiệt và hóa sinh học. Ngoài ra, còn một hình thức khác là sản xuất xăng sinh học. Trong chuyển đổi hóa nhiệt, có 4 hình thức là: đốt cháy, nhiệt phân, khí hóa và hóa lỏng. Còn 2 hình thức chuyển đổi hóa sinh học là phân giải khí và lên men. Đây được xem là một nguồn năng lượng sạch vì nó tác động tích cực đến môi trường, tạo ra ít cacbonic hơn năng lượng hóa thạch. Nó cũng được tính là một nguồn năng lượng tái tạo bên cạnh năng lượng mặt trời, năng lượng gió… vì tốc độ bổ sung nhanh hơn nhiều so với năng lượng hóa thạch đòi hỏi thời gian hàng triệu năm.

Tiềm năng phát triển nguồn năng lượng này ở Việt Nam

Theo thống kê, khả năng khai thác bền vững để sản xuất năng lượng điện sinh khối ở nước ta là khoảng 150 triệu tấn/năm. Công suất tạo ra từ nguồn sinh khối phế thải nông nghiệp, chất thải chăn nuôi, rác hữu cơ đạt khoảng 400 MW. Trong đó, một số dạng sinh khối có thể khai thác được ngay để sản xuất điện hoặc áp dụng công nghệ đồng phát năng lượng (sản xuất cả điện và nhiệt) là: trấu ở Đồng bằng sông Cửu Long, bã mía dư thừa tại các nhà máy đường, cây trồng năng lượng như cỏ voi, rác thải sinh hoạt trong các đô thị lớn, chất thải chăn nuôi và chất thải hữu cơ khác từ chế biến nông – lâm – hải sản.

NLSK tại Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển (Ảnh minh họa internet)

Số liệu từ Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, tiềm năng sản xuất năng lượng điện sinh khối từ gỗ củi ở nước ta có thể đạt 14,6 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2030; phế thải từ nông nghiệp có thể đạt 20,6 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2030; từ rác thải đô thị đạt khoảng 1,5 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2030. Trong cả nước, Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tiềm năng phát triển ngành năng lượng này lớn nhất, chiếm 33.4%; kế đến là Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung với 21.8%.

Để tận dụng tiềm năng lớn này, Việt Nam cũng đang hướng đến phát triển điện sinh khối bên cạnh phát triển điện mặt trời, điện gió. Theo Quy hoạch phát triển điện sinh khối ĐBSCL giai đoạn đến năm 2020, có xét đến năm 2030, mục tiêu phát triển nguồn điện sinh khối đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng công nghệ hiện đại. Trong đó, tập trung đẩy mạnh khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn trấu cho sản xuất điện, giai đoạn 2021-2030 sẽ lắp đặt điện trấu cho công suất 150MW. Còn tại TP.HCM, theo Quy hoạch phát triển điện lực TP.HCM giai đoạn 2016-2025, có xét đến năm 2035 thì đến 2025 sẽ đưa vào vận hành nhà máy phát điện từ nguồn đốt chất thải rắn với tổng công suất dự kiến khoảng 30 MW và giai đoạn sau năm 2025 sẽ có thêm một nhà máy đi vào hoạt động với tổng công suất khoảng 45 MW.

Thực tế, tại nhiều thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Cần Thơ… đã có một số nhà máy điện đốt rác thải đi vào hoạt động. Tại TP.HCM, đã có 1 dự án xử lý chất thải rắn kết hợp thu hồi năng lượng để phát điện đi vào hoạt động, công suất lắp đặt 2,4 MW. Tuy nhiên,có thể nói, sự phát triển của ngành năng lượng điện sinh khối ở nước ta hiện vẫn còn chậm, chưa tương xứng so với tiềm năng.

Xem thêm>> Năng lượng điện sinh khối tiềm năng lớn, vì sao điện sinh khối vẫn chưa thu hút nhà đầu tư?

Vũ Phong Solar

READ MORE

[Tư vấn] Pin Năng Lượng Mặt Trời Phổ Biến Hiện Nay

Content Protection by DMCA.com

Có nhiều thương hiệu pin năng lượng mặt trời, chiếm số lượng nhiều đặc biệt là cung cấp cho các dự án cánh đồng năng lượng mặt trời (solar farm) là các thương hiệu pin mặt trời từ xuất xứ từ China như pin mặt trời Jinko, Trina, JA…, các thương hiệu pin mặt trời có nhà máy sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam như pin mặt trời Vsun, pin mặt trời Canadian, pin mặt trời Irex… và các thương hiệu lớn xuất xứ từ Mỹ, Hàn, Nhật như pin mặt trời LG, pin mặt trời Sunpower, pin mặt trời Hanwha, pin mặt trời thin – film First Solar, pin mặt trời Mitsubishi…

Lịch sử phát triển của pin mặt trời

1.Tấm pin năng lượng mặt trời được tạo ra lần đầu tiên vào năm 1883 bởi Charle Fritts với hiệu suất ban đầu chỉ đạt được 1% . Nhưng trước đó người khám phá ra hiệu ứng quang điện là nhà vật lý người pháp Alexandre Edmond Becquerel vào năm 1839
2.Vào giữa những năm 1950 pin quang năng đã đạt được hiệu suất 4%, và hiệu suất sau đó nâng lên 11%, với các tế bào silicon
3.Năm 1982 Nhà máy điện mặt trời đầu tiên có công suất 1MW được hoàn thành ở Mỹ.
4.Đến năm 1999 tổng công suất lắp đặt pin mặt trời trên thế giới đạt 1GW.
5.Năm 2010, tổng công suất pin mặt trời trên thế giới ước tính đạt 37,4GW (trong đó Đức có công suất lớn nhất với 7,6GW.)
6.Và 2018 tổng công suất pin mặt trời trên thế giới đã vượt trên 500GW

pin năng lượng mặt trời

Các loại pin mặt trời

Các thương hiệu pin năng lượng mặt trời

  • Pin mặt trời đơn tinh thể (Mono – Si)
  • Pin mặt trời đa tinh thể (Poly – Si)
  • Pin mặt trời Thin – Film
  • Quang điện tập trung :Là một công nghệ quang điện tạo ra điện từ ánh sáng mặt trời. Không giống như các hệ thống quang điện thông thường, nó sử dụng thấu kính hoặc gương cong để tập trung ánh sáng mặt trời vào các pin mặt trời nhỏ, hiệu quả cao, đa chức năng.
  • Pin mặt trời tích hợp trong vật liệu xây dựng (BIPV)

Ưu nhược điểm của pin năng lượng mặt trời

Hiện nay phổ biến nhất là pin mặt trời silic, gồm có 2 loại đơn tinh thể (Mono – Si) và đa tinh thể (Poly – Si). Ưu nhược điểm của các dạng pin mặt trời như bảng so sánh dưới đây

pin năng lượng mặt trời

Các thương hiệu pin mặt trời phổ biến tại thị trường Việt Nam.

Sản xuất pin năng lượng mặt trời gồm có nhiều công đoạn, nhưng phổ biến nhất được chia thành 3 công đoạn chính: sản xuất ra nguyên liệu gọi là wafer, từ wafer sản xuất ra tế bào quang điện (solar cell), lắp ráp thành phẩm tấm pin mặt trời từ solar cell, kính, EVA, nhôm, hộp junction box… Đa phần các nhà máy là tham gia sản xuất tấm pin mặt trời ở công đoạn cuối, là lắp ráp lại thành tấm (module).

Có nhiều thương hiệu pin năng lượng mặt trời, chiếm số lượng nhiều đặc biệt là cung cấp cho các dự án cánh đồng năng lượng mặt trời (solar farm) là các thương hiệu pin mặt trời từ xuất xứ từ China như pin mặt trời Jinko, Trina, JA…, các thương hiệu pin mặt trời có nhà máy sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam như pin mặt trời Vsun, pin mặt trời Canadian, pin mặt trời Irex… và các thương hiệu lớn xuất xứ từ Mỹ, Hàn, Nhật như pin mặt trời LG, pin mặt trời Sunpower, pin mặt trời Hanwha, pin mặt trời thin – film First Solar, pin mặt trời Mitsubishi...

Về giá thành thì các thương hiệu đến từ Trung Quốc có giá thành rẻ nhất, phần lớn là các sản phẩm pin mặt trời đa tinh thể, thời gian bảo hành 10-12 năm. Các thương hiệu đắt tiền nhất là pin mặt trời LG, hay Sunpower với thời gian bảo hành 25 năm. Đặc biệt pin mặt trời LG có dòng sản phẩm 12 busbar, với nhiều tính năng ưu việt về hiệu suất lẫn tuổi thọ, độ suy giảm theo thời gian, có chế độ bảo hành tốt nhất thị trường hiện nay với bảo hành vật lý 25 năm, bảo hành hiệu suất sau 25 năm đạt trên 86-88% tùy dòng sản phẩm.

pin năng lượng mặt trời

Ưu việt của pin mặt trời LG 12 Busbar – bảo hành 25 năm vật lý

Tấm pin năng lượng mặt trời LG 12 busbar có những tính năng ưu việt, như các slide trình bày dưới đây gồm: hiệu suất ấn tượng, 12 busbar duy nhất LG sản xuất được ở thời điểm hiện tại tính tới 6/2019, công nghệ chống suy giảm hiệu suất, bảo hành vượt trội 25 năm vật lý, hấp thụ bức xạ tốt hơn và chống chịu thời tiết khắc nghiệt, hộp điện chuẩn IP68…pin năng lượng mặt trời
pin năng lượng mặt trờipin năng lượng mặt trời
pin năng lượng mặt trời
pin năng lượng mặt trời
pin năng lượng mặt trời
pin năng lượng mặt trời
pin năng lượng mặt trờipin năng lượng mặt trời
pin năng lượng mặt trời
pin năng lượng mặt trời
pin năng lượng mặt trời

Vũ Phong Solar là đơn vị có kinh nghiệm trên 11 năm thi công vận hành bảo dưỡng điện mặt trời áp mái cho dân dụng, công nghiệp, nhà máy và trang trại năng lượng mặt trời, với đội ngũ hơn 350 nhân sự tính đến hết 2019, có 9 chi nhánh trải dài Việt Nam, đã tham gia thi công hơn 500MWp và đang vận hành hơn 250MWp nhà máy điện mặt trời, đạt tiêu chuẩn ISO 9001:2015, ISO 14001:2015 và ISO 45001:2018 chứng nhận quốc tế bởi SGS, cam kết mang đến khách hàng các dự án điện mặt trời chất lượng cao, hiệu suất cao và tuổi thọ trên 30 năm.

Vũ Phong Solar

READ MORE